Phóng viên (PV):
Là tiến sĩ văn chương dạy văn học Việt Nam tại Pháp nhiều năm. Vậy văn chương Việt Nam được đón nhận tại Pháp như thế nào?
Tiến sĩ Đoàn Cầm Thi (TS ĐCT): Văn học Việt Nam ít được quan tâm tại Pháp. Vì nhiều lý do. Nó khó cạnh tranh nổi các nền văn học Nhật, Trung Hoa, Ấn Độ, Hàn Quốc. Đã đành, nhưng trên hết, vì nó không được giới thiệu một cách đầy đủ ngay tại một đất nước mà cộng đồng Việt thành hình từ lâu và được coi là bám rễ khá chặt vào cuộc sống tại đây. Có lẽ vì dân Việt thường chỉ chuyển qua làm văn hóa khi đã cảm thấy no đủ về vật chất, tức là lúc đã cầm chắc sổ hưu trong tay? Nói vậy thì hơi quá đáng, nhưng thực tế thì gần như thế… Nếu có viết có in, thì cũng chỉ loanh quanh đồng bào với nhau. Văn học Việt Nam tại Pháp vì vậy vẫn ì ạch. Lâu lâu cũng dấy lên được vài tháng, song lại lịm đi mất vài năm. Người làm chuyên môn, được đào tạo bài bản về nghiên cứu và phê bình hầu như không có ai. Dịch giả thì có thể đếm trên đầu ngón tay...
 |
|
"Tầng trệt thiên đường" - tác phẩm nổi tiếng của dòng văn học hiện đại Việt Nam đã chuyển ngữ được độc giả Pháp biết đến |
PV: “Au rez-de-chaussée du paradis” (Tầng trệt thiên đường) là tập truyện ngắn của 14 nhà văn Việt Nam đương đại, xuất bản tại Pháp đầu năm 2005. Tập truyện này đã tạo nên bất ngờ đối với giới độc giả Pháp về một Việt Nam với những hơi thở mới với những giấc mơ và những chấn thương của nó. Đây là cuốn sách bán chạy nhất trong tất cả các sách liên quan đến Việt Nam viết bằng tiếng Pháp (theo Amazon) vào thời điểm năm 2005. Nhưng truyện ngắn thì không thể nói hết được “tầm” của nhà văn, bởi nhiều nhà văn trong 14 nhà văn được giới thiệu là những nhà văn của tiểu thuyết. Sau thành công trên, chị có chọn dịch những cuốn tiểu thuyết của một nhà văn riêng lẻ nào không?
TS ĐCT: Sau khi dịch và giới thiệu tuyển tập gồm 14 truyện ngắn của 14 tác giả thuộc thế hệ “trẻ”, tôi vẫn muốn quay trở lại với tiểu thuyết. Theo tôi, đây là thể loại đòi hỏi nhà văn đầu tư nhiều vốn liếng và một tinh thần sáng tạo dài hơi. Đương nhiên, có một số tác giả chỉ hợp với truyện ngắn, nhưng tôi nghĩ là tiểu thuyết vẫn đáng thể nghiệm, vì chính trong khi theo đuổi một công trình ròng rã như vậy, người viết đặt ra nhiều câu hỏi, có khi thay đổi hẳn cách viết, đảo ngược hoàn toàn cách đặt vấn đề. Mà thay đổi là điều kiện tiên quyết của sáng tạo. Không gì làm cho độc giả nản hơn là nhà văn nhà thơ cứ dọn mãi một món nhàm chán. Nếu quả là giá trị một tác phẩm không phụ thuộc vào độ dài của nó, thì đọc nhiều bài thơ ngăn ngắn của một tác giả, bài nào cũng hao hao bài nào, với những chữ sao sáo, đôi lúc chêm một từ lạ để làm duyên, tôi hay có cảm giác như đứng trước một sản phẩm dễ dãi, hụt hơi.
Vì vậy, tôi chọn dịch một số tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà và Thuận. Theo tôi, đây là ba cây bút tiểu thuyết có trọng lượng hiện nay. Mỗi tác phẩm của họ thường là những thử nghiệm táo bạo, những thách đố dành cho chính họ. "Chinatown" do tôi dịch sẽ được NXB Seuil (là NXB hàng đầu của Pháp hiện nay) ấn hành vào đầu năm tới.
PV: Nhiều người bi quan với văn học Pháp trong thời gian gần đây phải thốt lên rằng: Văn học Pháp đang hấp hối! Còn văn học Việt Nam, cụ thể là thể loại tiểu thuyết, thời gian gần đây đang trong xu hướng đi xuống về chất lượng. Chị có sự so sánh nào không?
 |
|
Tiến sĩ văn học Pháp Đoàn Cầm Thi - Ảnh: Blog360yahoo
|
TS ĐCT:
Về so sánh, tôi sẽ không trình bày nhiều ngoài sự khác biệt nổi bật về số lượng. Ở Pháp, mỗi năm, riêng về tiểu thuyết, người ta đếm tới 400-500 đầu sách mới in. Các nhà văn Pháp cũng trường sức hơn. Một tác giả như Christine Angot (sinh năm 1959), đã có tới 13 tiểu thuyết, hàng chục vở kịch, truyện ngắn và tiểu luận. Michel Houellebecq (sinh năm 1958) cũng đã xuất bản trên dưới mười tác phẩm thuộc nhiều thể loại. Vì vậy, ở Pháp ngay trong nghệ thuật cũng có cạnh tranh. Nếu một cuốn sách in ra, trong vòng hai, ba tháng mà không bán được một số lượng nhất định, thì sẽ bị rút khỏi thị trường. Đương nhiên, sách văn chương không phải là một thứ hàng hoá thông thường (một cuốn best-seller chưa chắc đã có chất lượng nghệ thuật cao nhất), nhưng qui luật cạnh tranh sẽ làm cho cuộc sống văn học sôi động hơn, lành mạnh hơn.
PV: Cuộc sống của những nhà văn Việt Nam sống tại Pháp ra sao? Họ có đủ sức mạnh chuyển tải sự giao thoa giữa văn hóa Việt và Pháp trong tác phẩm của mình không?
TS ĐCT: Phần lớn họ là những người xa Việt Nam khá lâu Trong họ canh cánh một niềm hoài cổ và một nỗi lo quên tiếng mẹ đẻ, nên nhiều khi viết, với họ, chỉ mang tính giải sầu, không có chất chuyên môn. Các sinh hoạt văn học nghệ thuật nói chung đều trong tinh thần như vậy.
PV: Tình dục luôn là vấn đề nóng bỏng và hấp dẫn như một chiếc bánh hamburger đưa lên miệng một người đói. Tuy nhiên, khai thác vấn đề này trong văn học hoàn toàn không đơn giản. Các nhà văn sẽ phải đối diện với câu hỏi “Tôi là ai?”, “Viết về tôi như thế nào?”, “Tôi dám viết đến đâu?”.
Và từ sự lựa chọn đó, chúng ta thấy được ý thức của tác giả về tình dục. Ý thức này của các tác giả Pháp và Việt Nam khác nhau nhiều không thưa chị?
 |
|
Bìa một cuốn sách của Christine Angot - Ảnh: diplomatie.gouv.fr
|
TS ĐCT:
Tôi rất thích cuốn "Loạn luân" của Christine Angot in năm 1999, trong đó cô nói về hai kinh nghiệm bản thân: quan hệ loạn luân với cha mình trong vòng 10 năm (từ 14 tuổi đến 24 tuổi) và mối tình với một người phụ nữ khác (kéo dài 3 tháng). Tác giả mô tả không che đậy, bằng những hình ảnh và từ ngữ cụ thể nhất, sống sượng nhất, với giọng văn đầy bạo lực nhưng đau đớn, điên cuồng: « Tôi đã hoá điên trong vòng ba tháng (…) Tôi sẽ kể chuyện này ngay bây giờ, tôi không là Nietzsch, tôi không là Nijinski, tôi không là Artaud, tôi không là Genet, tôi là Christine Angot, nhưng tôi có các phương tiện của mình, có gì dùng nấy ».
Có lẽ trong lịch sử văn học, chưa ai dám làm như vậy. Và Christine Angot hoàn toàn ý thức được ý nghĩa của việc viết văn, cũng như thái độ phẫn nộ của độc giả trước cách viết trần trụi của mình, độc giả mà cô không ngần ngại gọi là « những con bê », cô xô thúc họ, tấn công họ, mỉa mai họ: « Tôi rất ghét phải viết ra điều này. Tôi căm ghét các người. Tôi thù các người. Tôi rất không muốn biết các người nghĩ gì. Chỉ có mỗi một chuyện, chuyện nào cũng thế. Những con bê. Tôi căm ghét các người. Viết hay đi nhà thương. Tôi bắt buộc. Đi nhà thương hay kể cho các người. Cho các người. Viết văn là một rào chắn để khỏi phát điên, may mà tôi là nhà văn, để ít nhất thì còn có cơ hội đó. Ít nhất là như thế đã ».
Theo tôi, cuốn sách được coi là thành công nhất này của Christine Angot, lôi cuốn chúng ta không chỉ vì hai đề tài cấm kỵ, mà nhờ một văn phong cực kỳ độc đáo, một lối viết trực tiếp, trực diện, không qua hình tượng. Christine Angot viết về mình ở ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba, cô nói về mình và chỉ nói về mình. Ta nghe thấy cô đang khóc, đang la, đang vùng vẫy, đang hoá điên và đang viết. Như thể tác giả viết hoàn toàn trong vô thức, theo bản năng. Christine Angot từ chối việc sắp xếp từ ngữ, ý tứ, để làm thành những câu « đầy ý nghĩa », lôgic. Cách viết của cô tạo cảm giác như cô chỉ làm mỗi việc là ghi ra giấy những ý, những từ chợt đến trong đầu mình. Đọc Christine Angot vì vậy rất mệt, độc giả luôn rơi vào những đoạn văn lặp đi lặp lai, không đầu không cuối, những câu có vẻ như sai ngữ pháp, thậm chí vô nghĩa. Ngôn ngữ của cô là ngôn ngữ nói, đôi khi ngôn ngữ của kẻ mất trí. Nhiều khi ý nghĩa của câu không phải trong nội dung, nhưng trong cái mà cô gọi là “điệu nhạc đích đáng” của cuốn sách.
Cô nói trong một cuộc phỏng vấn: « Tôi không làm công việc của người thợ kim hoàn. Tôi không muốn có một hòn kim cương được mài dũa sắc sảo. Cái tôi tìm kiếm, đó là một thứ nhạc đích đáng. Không phải cứ mài dũa mà người ta tìm thấy. Phải đào xới, chui vào một đường hầm ít nhiều yên ổn để tìm thấy một hòn kim cương thô thật đẹp. Và nhất là đừng mài nó ».
Như vậy, vấn đề không còn là « tôi là ai ? » mà là « viết về tôi như thế nào ? ».
Đọc Christine Angot, rồi đọc một tác giả nữ Việt Nam cũng hay viết về đề tài tình dục như Đỗ Hoàng Diệu, tôi đã có lần tự hỏi: Không hiểu Đỗ Hoàng Diệu “bạo” ở chỗ nào? Về mặt ý tưởng, Đỗ Hoàng Diệu đã không giải phóng cho tình dục khỏi hai mối dây vẫn ràng buộc nó trong văn học: tình cảm và đạo đức. Dường như trong vô thức, cô vẫn cho tình dục là một cái gì xấu xa, nên thường xuyên cô ngụy trang nó dưới những mớ tình cảm ướt át, những diễn văn về giá trị cao đẹp của nó (duy trì và bảo tồn nhân loại, nòi giống). Ngay cái tựa “Bóng đè”, đã nói lên tinh thần văn chương của tác giả : nói bóng nói gió, hàm ý, ẩn dụ. Tóm lại, chưa bao giờ Đỗ Hoàng Diệu để cho tình dục được là tình dục. Nếu các tác giả nữ của văn học Pháp hôm nay cụ thể bao nhiêu, thì Đỗ Hoàng Diệu chỉ dừng lại ở “cửa mình”, “cửa sông”, “cửa ẩm ướt”. Thậm chí, có thể nói, về phương diện này, câu chữ của cô khá sáo mòn. Cô còn cho hàng đống những ông Mỹ, ông Tây, ông Tàu, vào truyện tình để ám chỉ thân phận phụ nữ, thân phận quê hương. Vì vậy, về mặt nghệ thuật, Đỗ Hoàng Diệu có lẽ còn đứng sau nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Chí ít thì Bà chúa thơ Nôm, khi viết “cái quạt”, “đu quay”, “quả mít”, cũng không hô khẩu hiệu dân tộc, truyền thống, không chuyển tải thông điệp. Ở bà, cũng giống như ở các tác giả Pháp, tình dục đơn thuần là thứ đem lại khoái lạc, chỉ vậy mà thôi.
PV: Xin cảm ơn chị!
Lam Linh