Ông lần mò trong bóng tối đi xuống cầu thang. Trên sàn gỗ dưới gầm cầu thang là một cửa hầm bí mật. Đấy là chốn Tự do của ông. Lần nào cũng vậy, khi bước chân đến đây, lòng ông lại dâng lên một cảm giác : hồi hộp, sợ hãi, cay đắng, hạng phúc, nhục nhã. Những lúc như thế, ngực ông như ngạt thở. Ông thường đứng im lặng rất lâu trong bóng tối nơi chân cầu thang để cho tâm hồn ông trở lại thư thái hơn. Và lúc nào cũng vậy, ông vuốt lại mái tóc và như soi vào chiếc gương vô hình trong bóng tối. Lúc đó, ông lại thấy hiện lên gương mặt chàng sinh viên người Việt đứng trước cửa ngôi nhà của người giáo sư Pháp. Trước cửa ngôi nhà đó, trước khi bấm chuông, ông luôn luôn đưa hai bàn tay lên vuốt lại mái tóc dài như mái tóc của một nghệ sỹ và soi mặt mình vào một ô kính. Một gương mặt trẻ trung, thánh thiện và hơi gầy với đôi mắt sáng đầy tự tin hiện ra.
 |
| Rượu vang: Tranh sơn dầu của Nguyễn Quang Thiều |
Ông cẩn thận mở cửa căn hầm. Ông thường để mở cánh cửa căn hầm đó khá lâu cho không khí tràn vào làm căn căn hầm trở nên trong trẻo hơn và mùi ẩm mốc của căn hầm bớt đi mặc dù căn hầm vẫn có một lỗ thông hơi kín đáo. Sau đó ông cẩn thận đóng cửa hầm và quẹt diêm. Ông lặng lẽ thắp một ngọn nến. Lửa nến toả sáng căn hầm. Căn hầm rộng mười lăm mét vuông do chính ông thiết kế. Ông là một người mê rượu vang. Ông đã từng biết đến một căn hầm rượu vang của một người quen ở Paris quyến rũ hơn cả một kho báu trong chuyện cổ. Và ước mơ của ông là có một hầm rượu vang như thế. Khi học xong trở về nước, ông đã xây dựng hầm rượu vang trong ngôi nhà của ông. Tiền lương bao nhiêu năm làm việc cho một văn phòng luật ở Hà Nội ông giành để sưu tầm rượu vang Bordeaux. Giờ đây, giá gỗ đã chật cứng rượu vang. Một chiếc bàn gỗ nhỏ đặt giữa với hai chiếc ghế mây xinh xắn. Hai chiếc ly uống rượu vang và một giá nến. Trước năm 1954, hầm rượu chỉ là nơi để chứa rượu. Nhưng rồi ông không ngờ đó lại trở thành thế giới của tự do, của đau khổ và hạnh phúc của ông sau này.
Ông chọn một chai và lau rất kỹ trước khi mở nút chai. Tiếng nút chai bật một tiếng quyến rũ. Ông luôn luôn xúc động vì tiếng bật ra của nút chai. Mùi rượu vang mơ hồ lan toả. Nó không bao giờ là hương vị của đồ uống. Nó là hương của những cánh đồng nước nho mà ông đã từng đón nhận vào máu thịt ông trong những năm tháng trước kia. Ông từng nói say đắm về những cánh đồng nho nước Pháp đến nỗi có người bạn ông đã phải kêu lên : “ Kiếp trước cậu là người Pháp” . Ông chưa bao giờ là người Pháp và sẽ chẳng bao giờ là người Pháp. Tại sao ông lại phải là người Pháp ? Nhưng những cánh đồng nho nước Pháp và những ngôi nhà gỗ nơi đó mãi mãi sống động và đẹp đến nao lòng trong ông. Đó là vẻ đẹp, đó là sự thanh bình, đó là báu vật của trời đất tặng cho con người. Ông đã đi qua đó, đã dừng lại và đã đón nhận. Đó cũng là món quà trời đất trao tặng cho ông. Tất cả những thứ đó đang hiển hiện trên thế gian và ông dù mang quốc tịch nào đi nữa cũng vẫn có quyền đón nhận như chính thứ rượu vang kia, như chính những bản nhạc kia. Tất cả những vẻ đẹp thuộc về tất cả những ai nhận biết ra chúng.
Ông rót rượu vào hai chiếc ly. Tiếng rượu chảy vào lòng ly pha lê vang lên như tiếng một dòng suối trên thiên đường chảy qua những tảng đá vàng. Ông đã từng nghỉ cả mùa hè ở một làng làm rượu nho nước Pháp. Người ta đã cho ông được tham gia công việc kỳ diệu đó. Cho đến tận lúc này, ông vẫn thấy da thịt mình mê đi khi ông nghe tiếng vỡ của những quả nho chín chạm vào da thịt ông trong bể gỗ. Không biết có bao giờ ông được trở lại cái làng ấy. Nhiều lúc ông tự hỏi, tại sao mình lại yêu những cánh đồng nho nước Pháp đến như vậy ? Mình có thiên vị không ? Mình có bị nền văn minh Phương tây mê hoặc không ? Nhưng đó đâu phải là nền văn minh Phương tây. Đó đâu phải là sản phẩm của những người Pháp trong toà nhà của Phủ Toàn Quyền. Đó là vẻ đẹp của thế gian này. Và mình có quyền được đón nhận như mọi người Pháp. Người Pháp chỉ là những người biết thừa hưởng và biết gìn giữ những vẻ đẹp này mà thôi.
Ông đưa ly vang cho Dung.
Minh : Kỷ niệm một năm chúng ta gặp nhau.
Dung : Chúc mừng ngày đầu tiên em đặt chân lên Thế giới tự do của anh.
Minh : Một thế giới tự do với một ngọn nến.
Tiếng ly pha lê vang lên như ai đó gõ một phím đàn. Tiếng pha lê chạm nhau vang mãi trong căn hầm nhỏ bé đầy bóng tối. Họ im lặng. Cả hai nghe đến tận cùng âm thanh của pha lê trong bóng tối.
Con chuột xuất hiện.
Minh : Xin chào, khoẻ chứ ?
Ông đặt miếng biscốt vào một chiếc đĩa sứ nhỏ và đặt lên sàn hầm. Dung ngạc nhiên nhìn con chuột. Nó bò một cách thanh thản từ giá rượu xuống sàn hầm như một vị khách lịch sự nhất. Đến trước miếng bánh, nó dừng lại, vuốt râu và từ tốn ăn miếng bánh.
Dung : Anh nuôi nó à ?
Minh : Chúa gửi ông ấy xuống cho anh.
Dung : Chúa gửi nó xuống cho anh trước hay gửi em xuống trước.
Minh : Người gửi em xuống trước.
Dung : Anh khéo nói lắm.
Minh : Anh gặp em trước ông ấy mà.
Dung : Chúa gửi nó xuống làm gì ?
Minh : Để làm nhân chứng cho chúng ta.
Dung : Dù sao em cũng không thích chuột.
Minh : Con chuột này khác. Chúa gửi những con chuột xuống nhưng một số đã phản bội lại lòng tin yêu của Người. Đó là nhữg con chuột em không thích. Cũng như Người gửi xuống thế gian những con người và một số kẻ biến thành quỷ dữ.
Dung : Có vẻ cậu ta thích món này.
Minh : Ông ấy nghiện rồi. Mời món khác ông ấy không xơi.
Dung : Anh đặt tên nó là gì ?
Minh : Anh chưa nghĩ. Em giúp anh đi.
Dung : Ngài Biscốt.
Minh : Hay quá. Ngài Biscốt.
Minh cười.
Con chuột ngừng ăn nhìn Minh.
Minh : Xin lỗi Ngài Biscốt, tôi thật bất lịch sự.
Dung : Em không thể nào tưởng tượng nổi rằng anh lại có một chốn như thế này. Hơn cả thiên đường đấy.
Minh : Anh mê rượu vang mà.
Dung : Không chỉ là rượu vang.
Minh : Anh thèm đọc sách và làm thơ.
Dung : Cũng không chỉ thế.
Minh : Vậy là cái gì ?
Dung : Tất cả và hơn thế. Em không nói rõ ràng ra được. Những ai đã được anh mời xuống đây ?
Minh : Hai người. Em và Ngài Biscốt.
Dung : Tại sao một luật sư lại có thể làm thơ ?
Minh : Luật là sự công bằng của xã hội còn thơ là sự công bằng của tâm hồn.
Dung : Em yêu anh.
Họ chạm ly. Tiếng pha lê chạm nhau ngân mãi như không bao giờ dừng lại. Họ đợi cho âm thanh kỳ diệu đó như tan sâu vào bóng tối loang lổ trong hầm rượu thì mới nâng ly lên uống.
Dung : Em say mất.
Minh : Say thì em ngủ lại trong Thế giới Tự do này.
Dung : Em mơ ước vậy, nhưng em vẫn chưa hoàn toàn thuộc về cái thế giới ấy.
Minh : Em hãy chơi một bản gì đó đi…
Dung : Anh say rồi…đàn đâu nào ?
Minh : Dưới những ngón tay của em đấy.
Dung xoè hai bàn tay ra. Trong ánh sáng chập chờn của nến, mười ngón tay chị trải dài như những vệt sáng từ một ô cửa của một Thánh đường trong buổi hoàng hôn. Chị nhìn mãi vào những ngón tay của mình như lần đầu tiên chị khám phá ra những ngón tay đó. Mười ngón tay cứ xoè ra như thế trong ảo mờ tối, sáng và như trải dài bất tận. Và Minh lại nhớ đến con tàu đưa họ rời bỏ thế gian buồn bã và u tối. “ Em hãy ngồi xuống và chơi đi…” Minh thì thào. Ông lấy chiếc ghế mây và đặt giữa phòng. Dung bước từng bước đến bên chiếc ghế và ngồi xuống. Hai bàn tay như đang đặt trên những phím đàn.
Một nhà hát kỳ vĩ hiện ra. Tất cả nến được thắp sáng. Minh đặt chiếc ghế vào trong góc tối của căn hầm và ngồi xuống. Chưa bao giờ ông cảm thấy một điều kỹ vĩ như buổi tối này đang xẩy ra. Ông nhìn chị chờ đợi. Im lặng thật lâu. Thế gian như chưa bao giờ im lặng như thế. Đầu chị hơi cúi xuống. Nến hắt một vầng sáng lên gương mặt xanh xao và huyền bí của chị. Một tiếng đàn vang lên. Những ngón tay của chị bắt đầu chuyển nhẹ như những gợn sóng khi có một làn gió mỏng lướt qua mặt hồ nước phẳng lặng. Rồi những ngón tay mềm như những sợi nước chuyển động không ngừng. Minh nhắm mắt lại. Máu trong thân thể ông chuyển động kỳ lạ. Những giai điệu kỳ lạ tràn qua ông. Những đường phố trống rỗng. Những ngọn gió của mùa đông. Những ngôi nhà đầy bóng tối. Tiếng người khóc đâu đấy trong bóng tối mênh mông này. Tiếng đổ vỡ của một cái gì đó. Và tiếng bật mở của những ô cửa. Và ánh sáng. Và con tàu đã đến. Và họ đã bước lên con tàu đó, trút bỏ những thống khổ như trút bỏ áo quần trên cánh đồng ngập tràn hương ngũ cốc và ánh sáng. Và họ ra đi. Và những dòng sông vang lên nghịp chảy của nước. Và những vòm cây rung những hồi chuông lớn. Những ngón tay lộng lẫy của chị lướt trong bóng tối trên những phím đàn của khát vọng tự do và tình yêu. Chưa bao giờ ông được nghe một bản nhạc nào như thế. Mái tóc của chị được búi gọn giờ xổ tung đổ xuống hai vai. Gương mặt chị hắt một ánh sáng xanh. Nước mắt ngập tràn trên gương mặt chị. Lúc này, những ngón tay tung lên như những con sóng lớn của biển cả và đổ xuống những ghềnh đá. Chưa bao giờ ông lại được nghe một bản nhạc kỳ lạ như thế. Ông đã từng đến những nhà hát ở Paris. Nhưng không có một nhà hát nào trên thế gian này kỳ vĩ và linh thiêng như nơi ông đang ngồi. Bởi ông đang ngồi dưới bầu trời bất tận và đang nghe một bản nhạc của máu, nước mắt, của tiếng sấm ái tình và những hơi thở đau đớn và rực nóng của khát vọng tự do.
Dung ngừng chơi. Hai cánh tay chị buông thõng. Một phần hai cánh tay chị ngập trong bóng tối bởi ngọn nến để trên bàn không đủ ánh sáng toả sáng cả căn hầm. Mặt chị ngửa lên, đầm đìa mô hôi, hai mắt nhắm lại như ngủ. Minh ngồi như gục trên ghế. Im lặng kéo dài bất tận.
Con chuột trốn đâu đó trong bóng tối căn hầm đã xuất hiện trở lại từ lúc nào. Nó ngồi im lặng trên giá gỗ bên cạnh một chai rượu.
Minh bước lại bên Dung. Ông cầm lấy hai bàn tay chị và từ từ dâng lên. “ Anh đã nghe được tất cả”. Ông áp hai bàn tay chị vào mặt. Chợt hai người ôm lấy nhau. Họ hôn nhau. Thế gian chưa từng có cảnh tượng nào như thế. Quần áo Dung trút xuống. Tiếng thì thầm vang lên bên Minh : “ Em dâng hiến cho anh”. Căn hầm mỗi lúc một sáng lên và ngập tràn tiếng thở của hai người. Cả thành phố nơi họ sống không một ai biết được rằng : dưới lòng đất có một khoảng không bé nhỏ đầy bóng tối, âm nhạc đã rền vang và ánh sáng của da thịt họ đã rạng ngời như những ban mai. Máu chảy mạnh hơn mọi con sông trong thân thể họ. Chỉ có Ngài Biscốt vẫn mở hai đôi mắt tròn đen láy nhìn họ. Ngài là nhân chứng duy nhất những điều kỳ diệu đã xẩy ra. Đến một ngày nào đó, râu tóc Ngài bạc trắng, Ngài sẽ kể lại cho con cháu sau này của Ngài về những gì đã hiển lộ trong căm hầm đầy bóng tối này. Một đứa cháu Ngài chỉ thích cắn những hạt đỗ đỏ luôn miệng nói : Cháu chẳng tin những chuyện ông kể. Chẳng có gì hơn những hạt đỗ đỏ tròn căng này. Đã qua rồi cái thời của những câu chuyện lãng mạn.
Nhưng đó là lời ngây thơ của một con chuột nhỏ dễ thương. Nó phải được tha thứ. Và nó sẽ lớn lên. Nó sẽ hiểu tất cả.
 |
| Chân dung nhà thơ: Tranh sơn dầu của Nguyễn Quang Thiều |
****
Minh mở một chai vang mới. Trước khi mở một chai rượu mới ông luôn luôn đọc hết tất cả những chữ viết trên vỏ chai. Hành động đó làm ông nhớ da diết những thư viện ở Paris. Sách ngập tràn. Lần đầu tiên ông bước chân vào thư viện lớn nhất của Paris, ông sững sờ và hạnh phúc như phát điên. Cả ngày hôm đó, ông chỉ đi dọc những giá sách của thư viện để ngắm nhìn những cuốn sách. Với ông, thư viện đó chính là thiên đường của ông. Thi thoảng ông lại ấp mặt vào một cuốn sách và hít thật sâu hương vị của giấy. Từ khi trở về nước, ông không còn được mang cảm giác về một thư viện như thế nữa. Chính thế khi về nước, ông đang mang hàng trăm cuốn sách về theo và căn phòng nhỏ của ông cũng giống như một thư viện nhỏ.
Rượu vang dâng lên từ từ trong chiếc ly pha lê. Vẻ đẹp của rượu vang làm ông bớt giận với những gì nước Pháp đã làm với dân tộc ông. Ông nâng ly. Hương vị của những cánh đồng nho lại làm lòng ông thổn thức. Đã từ lâu, ông không hề có cảm giác đó là rượu. Thay vào đó là cảm giác về một thứ nước ngập tràn sự sống và vẻ đẹp của nó. Ông nhớ tới Dung. Ông nhớ tới toàn bộ vẻ đẹp của người con gái này. Họ từng khát khao một đứa con được hình thai trong cái Thế giới tự do của ông. Nhưng rồi cả hai đã không thực hiện ước mơ đó. Họ đợi chờ một cái gì đó sẽ thay đổi. Họ muốn đứa con của họ được sinh ra trong bầu trời tự do ngập tràn rượu vang và âm nhạc. Ông nhớ khi Dung từ từ trút bỏ quần áo trên thân thể chị. Một ban mai lộng lẫy và quyến rũ kỳ lạ hiện ra. Dung bước từng bước đến trước ông. Ông cảm nhận được hơi nóng từ thân thể chị toả ra cùng hương thơm da thịt của một cô gái trinh tiết. Lúc đó chị là một thiên thần. Chị lướt những ngón tay đẹp lộng lẫy lên da thịt ông. Tâm hồn và thân xác ông rung lên như một cây đàn piano dưới những ngón tay của một nghệ sỹ thiên tài. Chiếc bàn rung lên. Ly rượu trên bàn đổ xuống và rượu chảy loang đỏ trên ngực Dung. Chị như một thiên thần được làm vật hiến tế trong một nghi lễ kỳ vĩ của tình yêu. Đêm đó, họ ân ái với nhau đến sáng.
*****
Chị đã viết xong hai lá thư : một cho người yêu dấu của chị và một cho con trai chị. Lúc đầu, chị tưởng chị không viết nổi hai lá thư đó. Và bây giờ hai lá thư đã viết xong. Chị mang hai lá thứ đó về Hà Nội. Chị tìm đến nhà Minh. Chị xin phép người chị gái Minh cho chị được ngồi một mình trong căn hầm. Chị đặt hai lá thư lên chiếc bàn nhỏ. Trong thư viết cho Minh, chị nhờ ông chuyển lá thư cho con trai chị khi nào nó xứng đáng nhận lá thư đó. Chị không quên mua những hộp biscốt cho con chuột. Lúc này, chị thèm được chơi một bản nhạc. Chị đặt chiếc ghế ngay ngắn giữa căn hầm. Chị chọn một chai rượu. Chị mở chai và rót hai ly. Chị chạm ly và uống. Chị cảm như Minh đang ở trong căn hầm này nhìn chị. Chị thấy mùi thuốc lá quen thuộc của ông. " Em sẽ giành tặng bản nhạc này cho anh". Chị thì thầm và ngồi vào ghế. Chị dâng hai bàn tay ra và bắt đầu gõ những nốt nhạc dâng hiến cuối cùng cho người yêu của chị. Nếu ai nhìn thấy chị lúc này sẽ kinh hoàng nhận ra chị không còn là một con người bình thường nữa. Chị đã hoá thân. Sự dâng hiến lớn lao nhất cho tình yêu, cho âm nhạc và cho tự do đã làm cho chị phát sáng như có phép thuật. Một thứ ánh sáng xanh huyền ảo toả khắp căn hầm.
Khi bản nhạc kết thúc. Chị đứng dậy và từ từ trút bỏ quần áo. Môi chị mỉm cười : " Hãy lại đây với em". Một vẻ đẹp kỳ lạ hiện ra. Vẻ đẹp của tâm hồn khát vọng tự do vô bờ bến và vẻ đẹp của da thịt do Thượng đế sinh ra. Đôi bờ vai mờ sáng và chảy dài bất tận hai cánh tay. Bầu vú chị như đang vươn lên về phía ánh sáng nơi cửa hầm. Cặp đùi trải mãi như hai con đường của phù sa và một khoảng tối bí ẩn hiện ra. Chị từ từ nằm xuống nền hầm. Chị như một con thiên nga đang xoã cánh trên mặt nước của hồ nước tự do.
*****
Minh về đến nhà rất muộn. Chưa kịp tắm rửa gì ông đã vội xuống hầm rượu. Ông vội thắp nến.
" Xin chào, khoẻ chứ".
Ông cất tiếng.
Không một tiếng động nhỏ.
" Xin chào, khoẻ chứ".
Ông cất tiếng một lần nữa.
Vẫn là sự lặng im tràn ngập căn hầm.
Ông ngồi xuống ghế.
Vẻ mặt ông đầy lo âu.
" Xin chào, khoẻ chứ".
Lần thứ ba ông lên tiếng.
Hình như có tiếng động nhỏ. Minh nhìn không chớp mắt vào phía giá rượu. Từ trong bóng tối, Ngài Biscốt hiện ra. " Xin chào, khoẻ chứ". Minh líu lưỡi. Ông xúc động đến lạnh người khi thấy sự xuất hiện của con chuột. Con chuột thò đầu ra khỏi khoảng tối trong giá rượu nhìn ông. Và rồi hình như nó đã nhận ra ông. Nó trèo lên một chai rượu và ngồi xuống. Ông lập cập lấy một miếng bánh đặt vào chiếc đĩa sứ nhỏ phủ đầy bụi và đặt trên nền nhà. Con chuột nhìn ông rất lâu mới chậm chạp bò xuống nền nhà và bước đến trước chiếc đĩa sứ đựng miếng bánh. Ông nhận thấy con chuột không còn nhanh nhẹn như năm năm về trước. Ông cũng vậy, ông già đi nhiều.
Ông lấy một chai rượu ra khỏi giá. Ông lấy vạt áo lau đi lau lại chai rượu. Ông tìm cái mở nút chai. Tất cả mọi thứ trong căn hầm vẫn giữ nguyên không hề thay đổi một ly chỉ trừ bụi phủ lên tất cả. Ông tìm kính để đọc những dòng chữ viết trên vỏ chai rượu. Nhưng cặp kính ông vẫn dùng năm năm về trước đã không đủ cho ông nhìn rõ ràng những dòng chữ. Ông đẩy chai rượu ra xa mắt và gần với ngọn nến. Mặc dù đọc rất khó khăn nhưng ông vẫn đọc hết tất cả những chữ viết trên chai rượu. Ông trịnh trọng mở nút chai. Hương vị của rượu vang lâu năm trong hầm dâng lên như hương của loài hoa lạ. Ông run run rót một ly rượu. Ông cầm ly đưa về phía con chuột đang ăn miếng bánh và nói : " Chúc mừng tôi đã trở về chứ".
Đêm ấy ông uống cho đến lúc thấy người chuếng choáng.
Trích tiểu thuyết "Di chúc chỉ đọc cho một con chuột"