|
Những sách lược có ích của Đảng
Thời gian giữ những năm 1953, Đảng đã tiến hành cuộc cải cách ruộng đất, tập thể hóa nguồn lao động, phân chia tầng lớp công dân trong xã hội và đề cao tinh thần trong quần chúng để tạo ra một xã hội chủ nghĩa mới. [1].
Xuan Vu, một phóng viên và đã từng là đội trưởng đội tuyên truyền thời ấy hiểu rất rõ những thực tế những năm 1950. Ông nhớ lại rằng, trong suốt cuộc cải cách ruộng đất (1953), các công dân muốn chứng minh họ có thể trở thành những thành viên của một xã hội mới, trở thành thành viên của Đảng đều phải lọt qua ba cửa của cải cách xã hội, trong đó cánh cửa thứ ba được xem là quan trọng nhất: “Bạn phải được chứng mình là luôn ở trong lực lượng đấu tranh chống lại kẻ thù, không mắc phải những cám dỗ của nội gián… Bạn phải chứng tỏ rằng bạn một lòng một dạ trung thành với quân giải phóng, và bạn có thể hi sinh những mối quan tâm cá nhân khác vì đất nước”.
 |
|
Bác Hồ với nông dân - Nguồn ảnh: Internet
| Mặc dù thời kì cải cách ruộng đất ở Việt Nam diễn ra trong một thời gian khá ngắn nhưng những tác dụng của tinh thần tự phê thì vẫn còn mãi. Đảng đã bước đầu gây dựng được niềm tin và sự yêu mến của nhân dân.Tuy nhiên, với sự phân chia tầng lớp trong xã hội cũng khiến nhiều người phải chịu thiệt thòi. Thói quen hay thông lệ được mọi người gán cho một tầng lớp nào đó sẽ gây ảnh hưởng đến những người khác xung quanh họ, thậm chí đó là chồng hoặc vợ con của họ. [2]. Tuyen, một trong những “nhân chứng sống” đã chia sẻ hồi kí của mình với tôi; Những quyển nhật kí đã ghi lại một cách rất đầy đủ và chi tiết về những vấn đề xảy ra trong gia đình cô những năm 1950 ấy. Tuyen từng bị xem là một người cách mạng yếu kém vì cô xuất thân trong một gia đình quan lại. Cô đã liên kết với một nhóm gồm 12 sinh viên khác có chung sự phân biệt đối xử như cô. Họ đã làm một hiệp ước là sẽ không yêu bất kì ai có “giai tầng” giống như họ để con cái họ lớn lên không bị đối xử phân biệt một cách tiêu cực gấp hai lần những gì cô đang phải chịu đựng lúc ấy. Khi Tuyen kết hôn, cô cũng không kết hôn với một người chiến sĩ cách mạng, vì cô sợ rằng việc này sẽ làm hỏng những thành tích và phá hỏng những cơ hội thăng tiến của chồng.
Giữa những năm 1960 và cuối những năm 1960, khi chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam hãy gác lại những mối quan tâm của họ về cuộc sống cá nhân và chung tay giải phóng miền Bắc, thì tất cả các thế hệ thanh niên thời ấy đều hưởng ứng nhiệt liệt. Le Thanh, một kĩ sư cơ khí ở Hải Phòng nhớ lại những ngày ấy:
Tôi nghĩ lúc ấy, hầu hết tất cả chúng tôi, những thành viên của tổ chức thanh niên đều cảm thấy hào hứng giống nhau. Chúng tôi thường không bàn luận về cuộc sống riêng tư mà thực ra chúng tôi cũng không có gì riêng tư để nói đến. Mặc dù chúng tôi đang ở độ tuổi thanh niên, nhưng chúng tôi không hề có bạn gái. Tôi đã tự nhủ với bản thân mình rằng tôi sẽ sống một cuộc sống của những người Cộng Sản thực sự, một cuộc sống trong sạch của một người cộng sản yêu nước. Tại thời điểm đó, Đảng có một câu khẩu hiệu gọi là: “Ba Khoan: Nếu bạn chưa có con thì hãy khoan có, nếu bạn chưa kết hôn thì hãy khoan kết hôn, nếu bạn chưa yêu thì hãy khoan yêu”, do vậy, chúng tôi đều gác chuyện yêu đương lại. Thay vào đó chúng tôi lấp đầy tâm hồn mình bằng vẻ đẹp của những ngọn núi, những con suối và những loài hoa ở những nơi chúng tôi đã từng sống hoặc đi qua. Chúng tôi yêu những thứ đó và cảm thấy rằng chúng tôi có thể sẵn sàng chết để bảo vệ những vẻ đẹp đó”.
Đối với Đảng và hầu hết người Việt Nam, tình yêu đã trở thành một công cụ, một động lực thúc đẩy quá trình tham gia giải phóng đất nước và xây dựng một đất nước xã hội chủ nghĩa lý tưởng. Đã có thời người ta cho rằng, những người lính đang thực hiện nhiệm vụ trong các cuộc chiến tranh không nên có (dù chỉ là một chút ít) những vướng bận đến sự lãng mạn hay sự ràng buộc về mặt tình cảm ở hậu phương. Một người đưa tin khác nữa của tôi, một giáo viên dạy văn ở Hà Nội và cũng là một thanh niên sôi nổi trong thời kì ấy nói rằng có rất nhiều thanh niên tham gia vào Hội Liên Hiệp Thanh Niên và hầu hết họ đều rất nhiệt tình, hăng hái với các phong trào cách mạng vì họ rất yêu đất nước. Người giáo viên này nhớ lại: “Tình yêu đất nước mãnh liệt đã lôi cuốn họ tham gia vào Hội Thanh Niên và ai cũng đều muốn cống hiến một chút sức lực của mình vào công cuộc bảo vệ tổ quốc”.
 |
|
Hăng hái lên đường bảo vệ tổ quốc - Nguồn ảnh: Internet
|
Tình yêu hôn nhân của những người phụ nữ cũng có những điều luật nhất định. Theo Ashley Pettus, “chiến tranh đã tạo ra những bà mẹ cùng một lúc phải sống với những mối quan tâm cá nhân và làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ với quốc gia”. Những năm 1960, Hội liên hiệp phụ nữ đã truyền đạt cho những phụ nữ đã lập gia đình những quan niệm hay và đẹp về hạnh phúc và tình yêu thông qua những bài báo bổ ích trên Báo phụ nữ Việt Nam. Người ta khuyên những người phụ nữ có chồng và con trai đi chiến đấu hãy đặt sang một bên những nỗi buồn, nỗi đau cá nhân để nhận được niềm hạnh phúc tuyệt vời khi những người thân yêu của họ làm tròn bổn phận với đất nước. Tình chồng vợ và tình mẫu tử lúc ấy không gói gọn trong tình yêu của người vợ với một người chồng, người chồng với một người vợ hay của người mẹ với con cái mà còn bao hàm trong đó là tình yêu của một người mẹ đối với quốc gia.
Hàng trăm trong số hàng ngàn người đàn ông trẻ tuổi đã hi sinh trong chiến tranh để lại những người vợ trẻ chưa có con hoặc đã có những đứa con thơ hay bỏ lại người bạn gái chưa kịp làm đám cưới… Nhiều người phụ nữ tôi đã phỏng vấn sau những nỗi đau như thế đã tham gia vào các phong trào hoạt động cách mạng hoặc vẫn ở nhà nhưng từ chối hết tất cả mọi cơ hội kết hôn để làm tròn bổn phận của một người con trong gia đình mà đáng lý ra những người anh trai của họ phải đảm nhiệm. Những người phụ nữ này thật đáng trân trọng và đáng khâm phục, họ đã hi sinh cả tuổi thanh xuân của mình để cống hiến cho tổ quốc.
Thời ấy, mặc dù Đảng đã hết sức cố gắng để hoàn thành mục đích không cho cha mẹ quyền hạn sắp đặt sẵn hôn nhân cho con cái, nhưng những nỗ lực đó vẫn không hoàn toàn thành công. Hôn nhân tiếp tục được các bậc cha mẹ xem như một phương tiện liên kết vì lợi ích chung của các gia đình, để nâng cao hay duy trì chỗ đứng của một ai đó trong Đảng hay để đạt được nhiều quyền lợi hơn khi có một người con rể, con dâu làm một chức vụ gì đó trong nhà nước… Tuy nhiên, trong thời gian đó, các thành viên của Đảng, những người lính và những người làm việc cho nhà nước trước khi cưới vợ/chồng phải đưa cho Đảng xem xét lý lịch của người bạn đời và phải được sự chấp thuận của Đảng mới được phép kết hôn. Chính nhờ điều này mà một vài người đã kết hôn được với người mình thực sự yêu thương khi bố mẹ không cho phép.
Trong quyển tiểu thuyết “thời xa vắng” của Lê Lựu, một trong những quyển tiểu thuyết hậu chiến đầu tiên được xuất bản mà không theo những chủ đề văn học của Đảng, ông đã bứt phá từ chủ nghĩa xã hội hiện thực được Đảng tán thành để sử dụng những chủ đề của riêng ông. Lê Lựu cũng bất đồng ý kiến với những hình thức và chủ đề văn học của chủ nghĩa xã hội hiện thực bằng cách mô tả những mặt tiêu cực của việc đặt nhu cầu của tập thể lên trên nhu cầu cá nhân. Mối quan tâm của Lê Lựu với tình yêu lãng mạn, hôn nhân gia đình và sự khao khát tự do của các cá nhân làm chúng ta nhớ lại những nhà Thơ Mới và nhóm Tự Lực Văn Đoàn.
 |
|
Nhà văn Lê Lựu - Nguồn ảnh: mediamart.com.vn
| Trong quyển tiểu thuyết “thời xa vắng” (1986), nhân vật chính - anh nông dân tên Sài là nhân vật thể hiện sự thất vọng triền miên khi anh không có quyền thực hiện những mong ước cá nhân. Anh bị buộc phải kết hôn với một người con gái anh không hề có tình cảm, không hề hợp từ tính cách đến mọi điều kiện khác nữa (một cuộc hôn nhân được tạo ra để tạo dựng một mối quan hệ tốt cho gia đình Sài). Anh cũng không thể nào đương đầu và đấu tranh với những người thân trong gia đình để đạt được mong muốn kết hôn với Hương, một người bạn cùng học mà anh đem lòng yêu mến với tất cả trái tim và tâm hồn, Sài đã gia nhập quân đội để trốn tránh hoàn cảnh khổ tâm của mình. Không còn bị chi phối bởi gia đình nữa, Sài bắt đầu viết nhật kí. Quyển nhật kí là một nơi để Sài tự giải bày tâm hồn mình trong một thế giới mà việc tâm sự với những người khác về tình cảm cá nhân hoàn toàn không hề thích hợp. Trong quyển nhật kí của mình, Sài có viết một lá thư cho Hương. Lá thư bày tỏ khao khát của Sài về một sự tự do cá nhân và tự do trong tình yêu. Lá thư nói đến sự bất lực của một người thanh niên trẻ tuổi, người mà cuộc đời của anh đã bị quyết định bởi những người có tiếng trong dòng họ với mối quan tâm duy nhất của họ là – đạt được địa vị chính trị trong một thế giới đầy rẫy sự phức tạp, nơi mà tư tưởng của Đạo Khổng truyền thống và Đảng Cộng Sản trộn lẫn vào nhau dưới mọi hình thức của cuộc sống.
Quyển nhật kí của Sài bị một người chỉ huy trong đại đội tìm thấy và đọc được. Sau đó, anh ta đã trao nó cho những người cấp trên, và họ đã bắt Sài phải từ bỏ “tư tưởng bệnh hoạn” của anh đi. Kết thúc quyển tiểu thuyết, khi chiến tranh đã đi qua, Sài không còn biết anh ta là ai và anh thực sự muốn gì nữa. Sau một cuộc hôn nhân đổ vỡ với một người phụ nữ kết hôn với anh chỉ để che đậy cho cái thai cô ta có với một người đàn ông khác, Sài sống một mình. Sự thật là Lê Lựu đã để Sài sống một mình ở cuối “Thời xa vắng” để biếu thị cho một sự thất bại của những nỗ lực của con người luôn đấu tranh vì một nền chủ nghĩa xã hội và thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình. “Thời xa vắng” là một quyển tiểu thuyết rất hay và có giá trị, phê bình sự can thiệp quá sâu vào đời sống cá nhân của người công dân và bộc lộ những tình trạng căng thẳng vốn có của quần chúng trong suốt công cuộc xây dựng đất nước.
-------------------------------------------
[1] Xem thêm Edwin E. Moise, Land Reform in China and North Vietnam (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1983), 146 – 281.
[2] Các thành viên của Đảng làm việc trong các cơ quan nhà nước phải được sự cho phép của các cấp chính quyền mới được cưới một người nào đó làm vợ hoặc chồng. Xem thêm Daniele Belanger và Khuat Thu Hong “Hôn nhân và gia đình nông thôn miền Bắc Việt Nam 1965-1993” và John C. Schafer “The Collective and the Individual in Two Post-war Vietnamese Novels”.
(Còn nữa)
Harriet M. Phinney
Nhật Anh (Vietimes) dịch
|