|
>> Dante Alighieri - Tình yêu run rẩy của tôi (Phần I)
Năm 1313, Henry VII chết đột ngột, cắt đứt mọi niềm hi vọng cho Dante trở lại Florence. Vì vậy Dante đã trở về Verona, nơi Cangrande Idella Scala đã tạo cho ông một cuộc sống an toàn và sung túc hơn (ông được Dante nhắc đến khá nhiều trong Paradise, XVII, 76).
Năm 1315, Florence - dưới sự cai trị của Uguccione Della Faggioulce - đã trao ân xá cho những kẻ lưu vong. Dante cũng nằm trong danh sách những du dân được tha tội. Nhưng Florence đã đưa ra đòi hỏi nếu không nộp tiền phạt thì những người này vẫn bị đối xử như những kẻ tội phạm trong lễ giáo. Dante đã bác bỏ điều xúc phạm này và tiếp tục cuộc sống tha hương của mình.
Khi Uguccione đánh bại Florence, cảnh sống cô độc của Dante chẳng khác nào cái chết và ông đã định đến Florence để tuyên bố rằng sẽ không bao giờ quay trở lại. Nhưng trên thực tế, Dante đã không đến được. Án tử của ông đã được định sẵn và điều này liên lụy đến cả những người con trai của ông.
Nhưng dẫu sao, Dante vẫn ấp ủ hi vọng cuối đời có thể đường hoàng trở lại Florence chấm dứt cuộc sống tha hương như đã chết. Nỗi đau này được ông bày tỏ trong Paradise (XVII, 55-60). Dante mô tả hy vọng cháy bỏng của mình đầy mơ ước, như thể ông đã nhận được cái diều không thể có ấy trong Paradise (XVII, 1-9). Dĩ nhiên, điều đó không bao giờ xảy ra.
Năm 1318, hoàng thân Guido Novella Cla Polenta đã mời Dante tới Ravenna, ông đã nhận lời.
Năm 1321, Dante đã kịp hoàn thành cuốn Paradiso và qua đời ở tuổi 56 khi đang trên đường trở về Ravenna từ một phái đoàn ngoại giao ở Vience. Dante được chôn ở Ravenna tại nhà thờ Sanfrancessco.
Năm 1423, Bernardo Bambo, pháp quan của Vience, đã cho xây dựng lại mộ của Dante. Trên mộ, có đề vài tứ thơ của Bernardo Canacicio.
Cuối cùng, Florence đã lấy làm hối tiếc về cảnh sống tha hương của Dante và muốn đưa di vật của ông trở về, nhưng người trông coi thi thể của ông ở Ravenna đã từ chối và giấu hài cốt của Dante trong một bức tường giả của một tu viện. Tuy thế năm 1829, một ngôi mộ của Dante đã được xây lên ở Florence tại nhà thờ Saint Groce. Ngôi mộ đó hoàn toàn trống rỗng vì thi hài của Dante vẫn nằm ở Ravenna, cách xa mảnh đất Florence yêu dấu.
Trước ngôi mộ này có ghi “Thương tiếc nhà thơ lưu vong”. Đây là lời trích dẫn khổ thơ thứ 4 của cuốn Inferno, mô tả sự đón mừng Virgil khi ông trở về giữa những nhà thơ cổ đại đã sống trong nhà lao. Tiếp theo câu trên là dòng chữ “Linh hồn người, xa lìa chúng ta, nay đã trở về” rất chua xót. Mới đây người ta đã cho dựng lại những bức tượng của ông.
Dante là tác giả của các tập Rime (Thơ), Il convivio (Dạ tiệc) sáng tác năm 1304 là một bộ sưu tập nhiều bài thơ về luận án triết lí học, De Vulgari Eloquentia (Về hùng biện đại chúng) sáng tác năm 1304 nhưng chưa kịp hoàn thành, De monarchia (Về chế độ quân chủ)… Tuy nhiên, những tác phẩm này chỉ có một số ít nhà nghiên cứu quan tâm, còn người đọc trên khắp thế giới hầu như chỉ biết đến hai kiệt tác: La Vita Nouva (Cuộc đời mới), La Divina Commedia (Thần khúc).
Tác phẩm La Vita Nouva (Cuộc đời mới) bao gồm thơ và văn xuôi, viết về tình yêu của Dante đối với Beatrice Portinati. Ông đã nói lên ý nghĩa của nàng đối với ông lớn như thế nào. Ông cho biết sau cái chết của nàng ông đã để tang nàng trong đau khổ, hằng ngày luôn trông thấy một người phụ nữ đứng bên cửa sổ mỉm cười với ông. Đó vì thế ông đã coi đó như hình ảnh của Beatrice hiện về bên ông.
Ông đã chân thật tuyên bố rằng “Nếu cho phép tôi được sống thêm vài năm nữa, tôi hi vọng sẽ viết cho nàng những gì tôi chưa từng viết cho bất kì người phụ nữ nào”. Tình yêu của Dante đối với Beatrice Portinati mang tầm vũ trụ. Nhà thơ nhìn thấy ở người con gái trần tục này một khí thần thể hiện qua những con số: “Số 9 bắt nguồn từ số 3, vì 3 lần 3 là chín”. Suy ra, ba ngôi: Chúa cha, Chúa con và Đức thánh thần là ba trong một. Từ đó lại suy rộng ra, người con gái này là con số 9, đây là một phát hiện kì diệu. Những lập luận này thể hiện tinh thần của thời đại bấy giờ nhưng dù sao vẫn là liều lĩnh khi đem ba ngôi thần thánh so sánh với một người con gái trần tục.
 |
|
Dante Alighieri | La Divina Commedia (Thần khúc) là một tác phẩm bằng thơ đồ sộ gồm 3 phần: Địa ngục, Tĩnh ngục, Thiên đường. Mỗi phần gồm 33 khúc, 1 khúc mở đầu gộp lại thành 100 khúc với hơn 14.000 câu thơ. Người ta vẫn coi La Divina Commedia là “kinh thánh của thời trung cổ”. Khi viết tác phẩm này, Dante đã đảm đương một trọng trách vĩ đại giúp loài người thoát khỏi nỗi sợ hãi trước cái chết và mưu cầu hạnh phúc trong cuộc đời tĩnh lặng này. Dante cho rằng địa ngục là có thật và chỉ có sự can đảm, nhân phẩm và tình yêu mới giúp con người thoát khỏi nơi đó.
Thần khúc mô tả chuyến phiêu lưu của Dante xuyên qua ba vương quốc: Địa ngục, Tĩnh ngục và Thiên đường. Những hình ảnh về Địa ngục, mô tả trong cuốn Inferno, chói lọi với những chi tiết siêu nhiên. Purgatorio, Tĩnh ngục, giàu tình yêu thương, nhất là đoạn thứ ba, nhắc đến nhiều tên tuổi của các nhà thơ cổ. Parsdiso (Thiên đường) nặng về triết lý, ám ảnh người đọc bằng những con đường đẹp mê ly đến nỗi Dante cũng phải công nhận rằng khả năng bản thân đã thất bại khi cố gắng truyền đạt lại những cái ông đã thấy ở nơi đó.
Trong một lớp nghĩa khác, đây là hành trình khám phá bản chất cá nhân con người. Dante tự nhìn vào bản thân mình và nhận ra sự tồn tại của quỷ dữ và con đường đi đến tội ác của con người ta khi mà đã không nhận thức được ta đang làm gì. Nhưng cuối cùng dể gạt bỏ tội lỗi, Dante buộc mình phải đối mặt với sự đồi bại trong chính tâm hồn ông, và chợt giật mình trong nỗi khiếp sợ, chấp nhận hình phạt của chúa đối với tội lỗi của chính mình. Sự ăn năn đó được ông nói đến trong cuốn Purgatorio, ở đó tâm hồn ông đã được rửa sạch.
Dante viết Commedia bằng một ngôn ngữ hoàn toàn mới mẻ trong văn chương mà ông gọi nó là tiếng “Italia”, dựa trên phương ngữ Tuscan, Silican và một vài yếu tố tiếng Latinh để tạo nên cơ sở vần điệu riêng.
Ông cho rằng tiếng “Italia” thích hợp nhất để là một ngôn ngữ thể hiện tính triết lý theo cấu trúc văn chương sử thi. Vì điều đó, Dan te được ghi dấu là một người đầu tiên (trong số những người như Geoffrey Chance và Giovani Boccacia) đã phá rào xuất bản bằng tiếng Latin và Hy Lạp. Bước đột phá này tạo điều kiện cho văn chương tiếp cận rộng rãi tới người đọc bản địa hơn và mở ra một giai đoạn phát triển mới cho văn học trong tương lai.
Người đọc thường không hiểu thấu một tác phẩm như thế nào được gọi là “Commedy”. Trong thời đại của Dante, những tác phẩm đặc biệt uyên thâm được viết bằng chữ Latinh (theo truyền thống). Theo nghĩa cổ điển, “Hài kịch” phản ánh những tư tưởng tín ngưỡng theo quy luật vũ trụ, trong đó mọi sự việc không chỉ hướng đến hạnh phúc và một cái kết có hậu mà kết thúc ấy bị ảnh hưởng bởi sự may mắn cuối cùng theo quy luật hướng tới cái tốt đẹp nhất.
Nói rõ hơn thì nó đơn giản là một câu chuiyện bắt đầu với sự ảm đạm và kết thúc có hậu. Với ý nghĩa đó, một loạt chuyến du hành của Dante từ địa ngục tới thiên đường đã thể hiện theo kiểu mẫu của thể loại “hài kịch”. Tác phẩm bắt đầu với sự hỗn loạn về trạng thái tội lỗi và kết thúc với những hình ảnh ngời sáng của chúa.
Bản dịch phổ biến nhất của Commedia sang tiếng Anh là của Henry Cary (1772-1884).
Dante và La Divine Commedia (Thần khúc) là một nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều thế hệ nhà thơ của bảy thế kỉ tiếp đó, là một tác phẩm nổi tiếng và giàu nghệ thuật nhất trong truyền thống văn hóa phương Tây, ảnh hưởng của nó đến đời sống nghệ thuật trên toàn thế giới là khó ước lượng được.
Năm 1350, Giovanni Boccacio (1331-1375) đã công bố bài diễn thuyết “divini poeta” và bản tiểu sử về thân thế cuộc đời và sự nghiệp của Dante. Trong đó Boccacio đã viết “nhà thơ của chúng ta khi ra đi đang ở điểm giữa của vinh quang. Mặt ông dài, mũi thì như chim ưng, hàm rộng, môi dưới trề ra phía trước, đôi mắt khá lớn, tóc và râu rậm, cứng và đen, vẻ mặt buồn và trầm ngâm. Dáng đi thì trang nghiêm và hào hoa. Tác phong thì ở nơi công cộng cũng như không, tuyệt vời, bình tĩnh, điềm đạm và lịch sự. Trong bữa ăn hay uống, ông ấy rất điều độ”. Đó là tất cả những gì mà người ta nói về nhà thơ thiên tài nhưng bất hạnh này.
Ngọc Hân (VieTimes) dịch
|