TRANG CHỦ BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT BẠN ĐỌC VÀ TÒA SOẠN ĐẶT VIETIMES LÀM TRANG CHỦ
Người quan sát Đối thoại Việt Tiếng gọi số phận Chuyên đề Tính cách Việt Nhiệt kế văn hoá Câu lạc bộ tỷ phú Khoa học giới tính Ngàn ô cửa thế giới
Tìm kiếm :
  

Alexander Blok: Lời dụ của lửa và bóng tối
Thứ hai, 22/10/2007, 07:00 GMT+7

Alexander Blok (1880-1921) được coi là nhà thơ trữ tình tài năng nhất của thơ ca Nga thế kỷ XX,  là nhà thơ hàng đầu của trường phái biểu tượng Nga. Ông cùng với những nhà thơ lớn khác đã góp phần tạo nên một “Thế kỷ bạc” của thi ca Nga.



Lời dụ của lửa và bóng tối

Ôi mùa xuân vô tận vô biên

Và vô tận vô biên niềm mơ ước

Ta đón chào người hỡi cuộc sống, ta tiếp nhận người

Ta đón chào người bằng tiếng khiên khua vang

Ta tiếp nhận sự bại vong

Sự thành công ta cũng chào đón

Trong lãnh địa phù phép của tiếng khóc

Trong bí nhiệm của tiếng cười không có gì ô nhục

Ta tiếp nhận những làng thôn hoang vu

Những giếng khơi nơi phố phường bụi bặm

Những khoảng trời mênh mông lộng gió

Và nỗi nhọc vắt sức của lao động khổ sai

Và ta nghênh tiếp người bên ngưỡng cửa

Với gió bạo cường trong tóc rối tung

Với cái tên thánh thần chưa đoán được

Trên cặp môi lạnh lùng mím chặt

Trong cuộc hội ngộ, giao tranh này

Không bao giờ ta chịu buông khiên

Không bao giờ người chịu phanh vai

Nhưng bên trên chúng ta một giấc mơ nồng say

Và ta nhìn cố đo hết thù địch

Căm hờn, nguyền rủa, mến yêu

Dẫu đau khổ, dẫu phải chết ta biết

Chẳng hề chi ta vẫn tiếp nhận người

(Giáo sư Phạm Vĩnh Cư dịch)

Alexander Blok (1880-1921) được coi là nhà thơ trữ tình tài năng nhất của thơ ca Nga chỉ xếp sau nhà thơ thiên tài của thế giới là Alexander Puskin, là nhà thơ hàng đầu của trường phái hình tượng Nga. Ông cùng với những nhà thơ lớn khác đã góp phần tạo nên một “thế kỷ bạc” của thơ ca Nga.

Alexander Blok (A.B.) sinh ngày 16 tháng 11 năm 1880 trong một gia đình quý tộc ở S. Peterburg. Người thân của ông đều là những tri thức lớn. Cha ông, A. L. Blok, người Balan gốc Đức là một luật gia, nhà soạn nhạc, triết gia và giáo sư giảng dạy tại trường Đại học Warsaw. Mẹ ông, bà Alexandre Andreevna là một nhà văn, nhà dịch giả và là con gái của nhà thực vật học lỗi lạc, hiệu trưởng trường Đại học S. Petersburg. Nhưng cha mẹ ông đã sớm ly hôn khi ông chỉ còn là một cậu bé. Vì thế tuổi ấu thơ của A. B. trôi qua trong sự chăm sóc của ông bà ngoại.

Năm 1889, mẹ ông tái hôn và ông đã chuyển đến S. Petersburg rồi bắt đầu học trung học ở đó năm 1891.

Năm 1898 ông đã tốt nghiệp trung học và tham gia học khoa luật (1898-1901) nhưng sau đó 3 năm lại chuyển sang học khoa ngôn ngữ (tốt nghiệp năm 1906) ở trường Đại học S. Petersburg.

Thời gian này ông đã đem lòng yêu một cô gái tên là Lyubova Mendeleeva, con gái của nhà hóa học nổi tiếng Dmitry Ivanovich Mendeleev. Tình yêu của họ đã sớm đơm hoa kết trái bằng một cuộc hôn nhân năm 1903. Kết quả của cuộc hôn nhân này là hơn 800 bài thơ của ông dành tặng riêng cho người phụ nữ tuyệt vời này. Những bài thơ ấy được tập trung trong một chùm thơ cùng đề tài mang tên “Verses about the beautiful lady” (Thơ về người đàn bà tuyệt vời). Trong đó ông đã biến người vợ nhỏ bé của mình thành người phụ nữ bất diệt. Cùng lúc đó, ông đã trở thành thành viên của Hội những người theo trường phái tượng trưng như Bely và Solovyov.

2. Sự nghiệp thơ văn

A.B. bắt đầu viết và say mê nghệ thuật sân khấu từ rất sớm.

Lên 5 tuổi, cậu bé A.B. đã biết làm thơ. Đó là những câu chuyện được thuật lại bằng văn xuôi và thơ của trẻ nhỏ lần đầu xuất hiện trước công chúng năm 1887 và 1888. Bài thơ đầu tiên được công bố trên tờ báo “The new day”, do Hippius và Merezhkovsky tham gia biên tập. Hầu hết những bài thơ đầu tay ấy đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Zhukovsky và Fet, cũng như thơ ca lãng mạn Đức.

Tuổi nhỏ ông thường đến sống ở điền trang Shakhmatovo của ông bà ngoại vào những tháng hè. Từ đây những bài thơ về phong cảnh thiên nhiên Nga đã ra đời và được in trong tập thơ thiếu niên (1922).

Cũng từ đây,ông đã tìm hiểu về triết học của người cậu Vladimir Solovyov, và phong cách thơ của những nhà thơ nổi tiếng thế kỷ 19, như Fyodor Tyutchev và Afanasy Fet…Những ảnh hưởng này được tập hợp lại bổ sung vào phong cách thơ của riêng ông một cách hài hòa.

Năm 1904 – 1905 ông xuất bản cuốn sách đầu tiên, “Verses on a beautiful lady” (Thơ về người phụ nữ tuyệt vời) ông viết dành tặng riêng cho người vợ yêu của mình đã được giới văn chương đón nhận rộng rãi. Trong những bài thơ đó, A.B. còn tập trung tìm hiếu về “thuyết mạt thế” và sự sùng bái Sophia. Chủ đề, quan điểm, cảnh bình minh, cảnh mặt trời lặn, bầu trời trong xanh trong thơ ông…đều được liên hệ với những cái không tưởng và cái kết thúc thê thảm của thế gian.

Niềm đam mê của A.B. với sân khấu bắt đầu với những tác phẩm nghiệp dư ở Shakhmatov, Deov, và Boblov từ năm 1896 tới 1898.

Sau năm 1899, A.B. bắt đầu tham gia giới kịch Petersburg.

Năm 1901 ông gia nhập hội những người ngâm thơ phục vụ quần chúng ở trường nghệ thụât M.M. Chitau.

Năm 1906, A.B. tốt nghiệp đại học, ông viết và lần đầu tiên đưa vở kịch “The puppet show” (múa rối) lên sân khấu, nó đã mang lại cho ông một tiếng vang lớn trong làng nghệ thuật.

Sau đó A.B. tiếp tục viết nhiều vở kịch khác như “King on the square; The stranger…” . Những vở kịch này đã được tự tay ông dựng lên sân khấu và thu được những thành công vang dội ngoài sức tưởng tượng.

Năm 1907, ông đã công bố cuốn sách thứ hai “In advertent joy” (Niềm vui bất ngờ) và người ta nhận xét ông đã hoàn toàn trở thành một con người dường như chỉ dành riêng cho văn chương. Trong năm này ông cũng tiếp tục cho xuất bản tác phẩm “Land in snow” (Xứ tuyết) - cả hai bộ sưu tập thơ này đều thể hiện sự chuyển hướng của ông từ những cái siêu nhiên thần bí sang sự khủng hoảng về tâm linh và đặc biệt là tinh thần sùng bái triết lý của Vladimir Solovyov.

Năm 1908 A.B. công bố tác phẩm “Lyric dramas” (Những vở kịch trữ tình) đồng thời cho trình diễn vở kịch “The unknown woman” (Người đàn bà bí ẩn) trên sân khấu.

Năm 1909 ông bận rộn với những chuyến đi Ý, gây được cảm hứng thơ cổ Ý và luận đề “Lighting flash of art” (Tia chớp nghệ thuật). Cũng trong năm này, cha ông qua đời và ông đã đi đến Warsaw, tạo được cảm hứng với thiên anh hùng ca Retribution (Báo thù).

Năm 1911 công bố tác phẩm “Noctumal Hours”(Đêm)

Năm 1912 bộ sưu tập thơ thứ ba của ông ra đời

Năm 1913 viết vở kịch “Rose and Cross” (Hoa hồng và cây thánh giá)

Năm 1915 xuất bản tập thơ mang thiên hướng anh hùng ca “Vườn chim sơn ca”

Năm 1916 ông vào quân đội và đóng quân ở gần Pskov.

Năm 1918 viết bài tiểu luận “Giới trí thức và cách mạng” để ủng hộ chính quyền mới. Đồng thời trong thời gian này ông cũng viết “The scythians” trong đó ông đã ví vị trí của nước Nga như nằm trên đỉnh của châu Âu và châu Á.

Những năm sau cách mạng, Blok dã dồn hết tâm trí của mình vào nghề làm báo về xã hội và chính trị. Ông đã viết nhiều bài tiểu luận, các tác phẩm, các bài báo đề cập về lịch sử và triết học.

Nam 1919 ông được bổ nhiệm làm người quản lí nhà hát Bolshoi Dramatic.

Ông đã tham gia phong trào Xô viết, trong đó ông đóng vai trò là một công nhân trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật.

Năm 1920 trở thành nhà lãnh đạo của Hiệp hội thơ ca Nga.

Năm 1921 viết tác phẩm “To puskin house” ( và “On the poet’s calling” (Khuynh hướng thơ). Trong đó ông đã tôn vinh… ca ngợi Pushkin có khả năng hợp nhất Xô viết Nga…

Năm 1922 ông đột ngột qua đời có lẽ do bị bệnh hoa liễu, tinh thần và trí tuệ của ông đã hoàn toàn giảm sút. Một vài người nói rằng ông chêt do nạn đói kém sau cuộc nội chiến ở Nga. Sự thật gây ra cái chết của B. ở tuổi 40 cho đến nay vẫn còn nhiều nghi ngờ.

3. phong cách thơ của Blok hình thành trong sự phát triển mạnh mẽ của trường phái thơ hình tượng, mà chính ông là chủ soái. Thơ của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. các tác phẩm chính như:

Thơ về người đàn bà tuyệt vời (1904)

Thành phố (1904-1908).

Hoa hồng và cây thánh giá (1912, thể loại kịch)

Tổ quốc (1907-1916, thơ)

Trừng phạt (1910-1921, thơ)

Mười hai chiến sĩ (1918, thơ)

Mười hai chiến sĩ (1918, thơ)

Bài thơ "Bóng tối, đường phố, hiệu thuốc, ngọn đèn" của Blok trên một bức tường tại đường phố Leiden, Hà Lan


Bóng tối, đường phố, hiệu thuốc, ngọn đèn

Bóng tối, đường phố, hiệu thuốc,ngọn đèn.

Thế gian này mịt mù và vô nghĩa.

Dù sống thêm một phần tư thế kỷ nữa

Thì cũng chẳng có gì thay đổi.

Không một lối thoát!

Khi chết đi – tất cả sẽ lại bắt đầu

Tất cả sẽ lặp lại như đúng trước đó.

Bóng tối, mặt nước kênh gợn sóng trên sông đào

Hiệu thuốc, ngọn đèn và đường phố…

Ông đã chính thức công bố 3 tập thơ chính của mình. Tập một gồm những bài thơ đầu tiên của ông mô tả về người đàn bà đẹp, màu sắc chủ đạo của nó là màu trắng. Tập thứ hai, chiếm ưu thế bởi màu xanh da trời gợi về những điều ông khao khát nhưng không thể đạt tới. Tập 3 là tập hợp những bài thơ của ông trước cách mạng, chìm ngập trong màu đỏ của lửa và máu.

Trong thơ của Blok, màu sắc đóng vai trò rất quan trọng vì chúng truyền đạt những điều huyền bí ngoài khả năng phán đoán của con người. Ông cho rằng xanh da trời hay tím là màu của sự thất bại. Màu vàng của đèn lồng ngoài phố, cửa sổ và màu ánh sáng lúc mặt trời lặn là màu của sự phản bội, của cái tầm thường. Màu đen gợi ra những thử thách sẽ xảy đến nhưng lại ẩn trong đó một ánh sáng dạ quang có thể soi rọi những điều thần bí. tiếng Nga phát âm với những từ như vàng và đen được nhà thơ phát âm với chữ “o” kéo dài thay vì “yo”, (nhằm nhấn mạnh có sự sai khác trong từ đó).

Theo dấu chân của Fyodor Tyutchev, Blok đã phát triển hệ thống tinh vi phức tạp của biểu tượng thơ . Trong những tác phẩm đầu tiên, ví dụ gió đại diện cho đến gần của một người phụ nữ đẹp, trong khi đó “buổi sáng hoặc mùa xuân” là lúc họ mong mỏi gặp gỡ nhau, và “tối” là khoảng thời gian tồi tệ nhất khi nhà thơ và người vợ của mình phải xa nhau. “Đầm lầy và vũng bùn” đại diện cho cuộc sống hằng ngày tăm tối không nguồn ánh sáng nào có thể lọt từ trên xuống.

4. Trong suốt cuộc đời, Blok tập trung khai thác chính trong đề tài chính trị, đi tìm vị cứu tinh cho vận mệnh đất nước. Nhưng do chịu ảnh hưởng bởi học thuyết của Solovyov, ông còn hiểu mập mờ về thuyết khải huyền. Nên ông thường bị do dự giữa hi vọng và tuyệt vọng “tôi cảm thấy rằng một sự kiện lớn đang tới nhưng chính xác nó là gì thì tôi chưa phát hiện được”. Ông đã nói đi nói lại nhiều lần điều đó trong nhật kí của mình vào mùa hè năm 1917.

Khá bất ngờ, ông thừa nhận cách mạng tháng mười Nga là giải pháp cuối cùng cho những mong mỏi khải huyền…A.B. thể hiện cái nhìn của ông về về cách mạng trong tác phẩm Mười hai người lính (1918). Ông viết tác phẩm “Mười hai người lính” bằng thể thơ anh hùng ca để hưởng ứng cuộc cách mạng dân tộc. Bài thơ sử dụng nhiều đối âm, phức điệu và nhịp điệu thay đổi đột ngột, cách sử dụng ngôn ngữ lãng mạn giàu hình ảnh được chia thành hai tiết đoạn. Tác phẩm này nói đến 12 vị lãnh đạo cuộc cải cách. Bài thơ dài được thể hiện bằng ngôn ngữ thơ nhiều âm điệu, vần đối nhau, câu từ ngắn gọn, giản dị (như Encyclopeadia Britannica đã nhận xét) trở thành đối tượng được mọi người bàn đến nhiều nhất trong các tập san thơ Nga. Nó mô tả trận đánh của 12 người lính Bolshevik (ví với 12 tông đồ của chúa Jesus) đi qua con đường cách mạng với một trận bão tuyết mùa đông dữ dội đang bủa vây lấy họ. Tác phẩm này mau chóng tạo ra một cơn sốt vì những ảnh hưởng của ông trên các nhà nghiên cứu, các nhà thơ khác.

5. Những quan niệm được lý tưởng hoá đưa ra trong cuốn sách đầu tiên của Blok đã đặt ông vào vị trí người đi đầu trong trường phái hình tượng Nga. Những vần thơ đầu tiên của ông rất giàu âm thanh, nhạc điệu. Nhưng sau này ông đã theo đuổi thể loại thơ …

Cảm hứng thơ đến với ông vốn tự nhiên, dễ nhớ… có thể là những cái vô vị và những sự kiện ít quan trọng (Fabrika, 1903). Do đó, những bài thơ về sau của ông dựa trên cơ sở đối đầu giữa cái đẹp được lí tưởng hoá trong thuyết Plato và ngược lại… Hình tượng của thành phố S. Petersburg mà ông đã tập hợp trong bộ sưu tập thơ tiếp đó của mình, thành phố (1904-1908) thuộc trường phái ấn tượng và tôn giáo. bộ sưu tập thơ tiếp đó, Faina và Mask of snow (Màng tuyết) đã làm cho tiếng tăm của ông vượt xa sức tưởng tượng.

Ông thường được so sánh với Pushkin, và “thế kỷ bạc” của thơ ca Nga đôi khi được gọi là “thời đại Blok”.

Trong những năm 1910, cái tên Blok đã luôn được nhắc đến với sự ngưỡng mộ của bạn bè đồng nghiệp, và ảnh hưởng của ông trên những nhà thơ khác là không thể ước lượng hết được, thâm chí không có một tác giả nào ở các thế hệ tiếp đó có thể vượt qua ông.

Anna Akhmatova, Marina Tsvetaeva, Boris Pasternak, Vladimir Nabokov đã viết nhiều bài thơ ý nghĩa tỏ lòng tôn kính Blok.

Ngọc Hân (VieTimes) dịch

PHẢN HỒI CỦA ĐỘC GIẢ VỀ BÀI VIẾT
tran thi truong - Trung Hoa Nhan Chinh - tanlysu@gmail.com

Toi rat thich tho Bloc, va thich luon ca ban dich tren day cua Vie times ve Bloc. Chuc cac ban di dai tren con duong nay cho ban doc duoc nho. T

 
Ý kiến của bạn về bài viết này
  Tắt Telex Vni
Họ và tên:   
Địa chỉ:  
E-mail:   
Điện thoại:   
File gửi kèm:    (Max 100KB)
File gửi kèm:    (Max 100KB)
File gửi kèm:    (Max 100KB)
Tiêu đề:   
Nội dung:   
   
CÁC TIN KHÁC
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: Đã thực sự trở về Huế?  (19/10/2007)
Phạt một triệu đồng một lỗi chính tả trẻ con?  (17/10/2007)
Dante Alighieri - Tình yêu run rẩy của tôi (Phần II)  (17/10/2007)
Dante Alighieri - Tình yêu run rẩy của tôi (Phần I)  (16/10/2007)
Những "nghệ sĩ" chỉ nhả tơ… bằng miệng (Phần I)  (15/10/2007)
"Chưa có "luật" để ngăn ngừa những vụ "tàn sát chữ"  (15/10/2007)
Phim về "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" được quay ở... Mỹ  (15/10/2007)
Bí mật sách... dịch của NXB Hội Nhà văn (1)  (12/10/2007)
Trời ơi! Không ai chịu nhận quản lý “thư pháp” Quốc ngữ!  (11/10/2007)
"Đối chiếu": Việc đơn giản nhưng không dễ với các biên tập viên  (11/10/2007)

Điêu khắc hiện đại chỉ biết… ăn non
Nhà báo Nguyễn Như Phong: “Phải nghiêm cấm những thí nghiệm đối với chữ Quốc ngữ!”
Thảm họa dịch thuật: Truy lùng những kẻ “giết chữ” giấu mặt! (Phần I)
Holderlin: Định mệnh của tâm hồn Đức
Đào tạo lại Hoa hậu: Có lẽ đành phải… bó tay!
Không được mạo danh thư pháp để làm bẩn chữ Quốc ngữ!
Từ Tịnh Lôi và một nền văn hóa không thể khám phá
Vẻ đẹp Cách mạng Việt Nam trong trái tim một người Mỹ (Phần cuối)
Việt Nam 80.00 - nhìn từ bên ngoài và từ bên trong
Họa mi “cô độc” và một Diva xứng danh
Quan họ: Tình yêu ơi, đáng ra Người không có tội...
Tại sao Ngô Phương Lan không trả lời ba câu hỏi này?