Lời dụ của lửa và bóng tối
Ôi mùa xuân vô tận vô biên
Và vô tận vô biên niềm mơ ước
Ta đón chào người hỡi cuộc sống, ta tiếp nhận người
Ta đón chào người bằng tiếng khiên khua vang
Ta tiếp nhận sự bại vong
Sự thành công ta cũng chào đón
Trong lãnh địa phù phép của tiếng khóc
Trong bí nhiệm của tiếng cười không có gì ô nhục
Ta tiếp nhận những làng thôn hoang vu
Những giếng khơi nơi phố phường bụi bặm
Những khoảng trời mênh mông lộng gió
Và nỗi nhọc vắt sức của lao động khổ sai
Và ta nghênh tiếp người bên ngưỡng cửa
Với gió bạo cường trong tóc rối tung
Với cái tên thánh thần chưa đoán được
Trên cặp môi lạnh lùng mím chặt
Trong cuộc hội ngộ, giao tranh này
Không bao giờ ta chịu buông khiên
Không bao giờ người chịu phanh vai
Nhưng bên trên chúng ta một giấc mơ nồng say
Và ta nhìn cố đo hết thù địch
Căm hờn, nguyền rủa, mến yêu
Dẫu đau khổ, dẫu phải chết ta biết
Chẳng hề chi ta vẫn tiếp nhận người
(Giáo sư Phạm Vĩnh Cư dịch)
Alexander Blok (1880-1921) được coi là nhà thơ trữ tình tài năng nhất của thơ ca Nga chỉ xếp sau nhà thơ thiên tài của thế giới là Alexander Puskin, là nhà thơ hàng đầu của trường phái hình tượng Nga. Ông cùng với những nhà thơ lớn khác đã góp phần tạo nên một “thế kỷ bạc” của thơ ca Nga.
Alexander Blok (A.B.) sinh ngày 16 tháng 11 năm 1880 trong một gia đình quý tộc ở S. Peterburg. Người thân của ông đều là những tri thức lớn. Cha ông, A. L. Blok, người Balan gốc Đức là một luật gia, nhà soạn nhạc, triết gia và giáo sư giảng dạy tại trường Đại học Warsaw. Mẹ ông, bà Alexandre Andreevna là một nhà văn, nhà dịch giả và là con gái của nhà thực vật học lỗi lạc, hiệu trưởng trường Đại học S. Petersburg. Nhưng cha mẹ ông đã sớm ly hôn khi ông chỉ còn là một cậu bé. Vì thế tuổi ấu thơ của A. B. trôi qua trong sự chăm sóc của ông bà ngoại.
Năm 1889, mẹ ông tái hôn và ông đã chuyển đến S. Petersburg rồi bắt đầu học trung học ở đó năm 1891.
Năm 1898 ông đã tốt nghiệp trung học và tham gia học khoa luật (1898-1901) nhưng sau đó 3 năm lại chuyển sang học khoa ngôn ngữ (tốt nghiệp năm 1906) ở trường Đại học S. Petersburg.
Thời gian này ông đã đem lòng yêu một cô gái tên là Lyubova Mendeleeva, con gái của nhà hóa học nổi tiếng Dmitry Ivanovich Mendeleev. Tình yêu của họ đã sớm đơm hoa kết trái bằng một cuộc hôn nhân năm 1903. Kết quả của cuộc hôn nhân này là hơn 800 bài thơ của ông dành tặng riêng cho người phụ nữ tuyệt vời này. Những bài thơ ấy được tập trung trong một chùm thơ cùng đề tài mang tên “Verses about the beautiful lady” (Thơ về người đàn bà tuyệt vời). Trong đó ông đã biến người vợ nhỏ bé của mình thành người phụ nữ bất diệt. Cùng lúc đó, ông đã trở thành thành viên của Hội những người theo trường phái tượng trưng như Bely và Solovyov.
2. Sự nghiệp thơ văn
A.B. bắt đầu viết và say mê nghệ thuật sân khấu từ rất sớm.
Lên 5 tuổi, cậu bé A.B. đã biết làm thơ. Đó là những câu chuyện được thuật lại bằng văn xuôi và thơ của trẻ nhỏ lần đầu xuất hiện trước công chúng năm 1887 và 1888. Bài thơ đầu tiên được công bố trên tờ báo “The new day”, do Hippius và Merezhkovsky tham gia biên tập. Hầu hết những bài thơ đầu tay ấy đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Zhukovsky và Fet, cũng như thơ ca lãng mạn Đức.
Tuổi nhỏ ông thường đến sống ở điền trang Shakhmatovo của ông bà ngoại vào những tháng hè. Từ đây những bài thơ về phong cảnh thiên nhiên Nga đã ra đời và được in trong tập thơ thiếu niên (1922).
Cũng từ đây,ông đã tìm hiểu về triết học của người cậu Vladimir Solovyov, và phong cách thơ của những nhà thơ nổi tiếng thế kỷ 19, như Fyodor Tyutchev và Afanasy Fet…Những ảnh hưởng này được tập hợp lại bổ sung vào phong cách thơ của riêng ông một cách hài hòa.
Năm 1904 – 1905 ông xuất bản cuốn sách đầu tiên, “Verses on a beautiful lady” (Thơ về người phụ nữ tuyệt vời) ông viết dành tặng riêng cho người vợ yêu của mình đã được giới văn chương đón nhận rộng rãi. Trong những bài thơ đó, A.B. còn tập trung tìm hiếu về “thuyết mạt thế” và sự sùng bái Sophia. Chủ đề, quan điểm, cảnh bình minh, cảnh mặt trời lặn, bầu trời trong xanh trong thơ ông…đều được liên hệ với những cái không tưởng và cái kết thúc thê thảm của thế gian.
Niềm đam mê của A.B. với sân khấu bắt đầu với những tác phẩm nghiệp dư ở Shakhmatov, Deov, và Boblov từ năm 1896 tới 1898.
Sau năm 1899, A.B. bắt đầu tham gia giới kịch Petersburg.
Năm 1901 ông gia nhập hội những người ngâm thơ phục vụ quần chúng ở trường nghệ thụât M.M. Chitau.
Năm 1906, A.B. tốt nghiệp đại học, ông viết và lần đầu tiên đưa vở kịch “The puppet show” (múa rối) lên sân khấu, nó đã mang lại cho ông một tiếng vang lớn trong làng nghệ thuật.
Sau đó A.B. tiếp tục viết nhiều vở kịch khác như “King on the square; The stranger…” . Những vở kịch này đã được tự tay ông dựng lên sân khấu và thu được những thành công vang dội ngoài sức tưởng tượng.
Năm 1907, ông đã công bố cuốn sách thứ hai “In advertent joy” (Niềm vui bất ngờ) và người ta nhận xét ông đã hoàn toàn trở thành một con người dường như chỉ dành riêng cho văn chương. Trong năm này ông cũng tiếp tục cho xuất bản tác phẩm “Land in snow” (Xứ tuyết) - cả hai bộ sưu tập thơ này đều thể hiện sự chuyển hướng của ông từ những cái siêu nhiên thần bí sang sự khủng hoảng về tâm linh và đặc biệt là tinh thần sùng bái triết lý của Vladimir Solovyov.
Năm 1908 A.B. công bố tác phẩm “Lyric dramas” (Những vở kịch trữ tình) đồng thời cho trình diễn vở kịch “The unknown woman” (Người đàn bà bí ẩn) trên sân khấu.
Năm 1909 ông bận rộn với những chuyến đi Ý, gây được cảm hứng thơ cổ Ý và luận đề “Lighting flash of art” (Tia chớp nghệ thuật). Cũng trong năm này, cha ông qua đời và ông đã đi đến Warsaw, tạo được cảm hứng với thiên anh hùng ca Retribution (Báo thù).
Năm 1911 công bố tác phẩm “Noctumal Hours”(Đêm)
Năm 1912 bộ sưu tập thơ thứ ba của ông ra đời
Năm 1913 viết vở kịch “Rose and Cross” (Hoa hồng và cây thánh giá)
Năm 1915 xuất bản tập thơ mang thiên hướng anh hùng ca “Vườn chim sơn ca”
Năm 1916 ông vào quân đội và đóng quân ở gần Pskov.
Năm 1918 viết bài tiểu luận “Giới trí thức và cách mạng” để ủng hộ chính quyền mới. Đồng thời trong thời gian này ông cũng viết “The scythians” trong đó ông đã ví vị trí của nước Nga như nằm trên đỉnh của châu Âu và châu Á.
Những năm sau cách mạng, Blok dã dồn hết tâm trí của mình vào nghề làm báo về xã hội và chính trị. Ông đã viết nhiều bài tiểu luận, các tác phẩm, các bài báo đề cập về lịch sử và triết học.
Nam 1919 ông được bổ nhiệm làm người quản lí nhà hát Bolshoi Dramatic.
Ông đã tham gia phong trào Xô viết, trong đó ông đóng vai trò là một công nhân trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật.
Năm 1920 trở thành nhà lãnh đạo của Hiệp hội thơ ca Nga.
Năm 1921 viết tác phẩm “To puskin house” ( và “On the poet’s calling” (Khuynh hướng thơ). Trong đó ông đã tôn vinh… ca ngợi Pushkin có khả năng hợp nhất Xô viết Nga…
Năm 1922 ông đột ngột qua đời có lẽ do bị bệnh hoa liễu, tinh thần và trí tuệ của ông đã hoàn toàn giảm sút. Một vài người nói rằng ông chêt do nạn đói kém sau cuộc nội chiến ở Nga. Sự thật gây ra cái chết của B. ở tuổi 40 cho đến nay vẫn còn nhiều nghi ngờ.
3. phong cách thơ của Blok hình thành trong sự phát triển mạnh mẽ của trường phái thơ hình tượng, mà chính ông là chủ soái. Thơ của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. các tác phẩm chính như:
Thơ về người đàn bà tuyệt vời (1904)
Thành phố (1904-1908).
Hoa hồng và cây thánh giá (1912, thể loại kịch)
Tổ quốc (1907-1916, thơ)
Trừng phạt (1910-1921, thơ)
Mười hai chiến sĩ (1918, thơ)
Mười hai chiến sĩ (1918, thơ)
 |
|
Bài thơ "Bóng tối, đường phố, hiệu thuốc, ngọn đèn" của Blok trên một bức tường tại đường phố Leiden, Hà Lan |